CÂY VẨY ỐC
Cây thuốc số: 2927 - Vẩy ốcTheo sách của thiền sư Tuệ Tĩnh và các thiền sư khác.
Cập nhật nhiều nguồn mới từ thầy thuốc và các nhà nghiên cứu.
Vẩy ốc - Phyllanthus virgatus f. (P. simplex Retz), thuộc họ Thầu dầu - Euphurbiaceae.
Mô tả: Cây thảo cứng, có thân thường đơn, cao 10-60cm, màu lục nhạt, dẹp, có góc. Lá xếp hai dãy, dạng mạng, hình dải, ngọn giáo hay thuôn, tù ở gốc, nhọn và có mũi ở đầu, màu lục sẫm ở trên, mốc mốc ở dưới, dài 1-3cm, rộng 3-4mm. Hoa thành xim co ở nách lá gồm 1-2 hoa đực và 1 hoa cái. Quả nang, hình cầu, đường kính 3mm, màu vàng - nâu, hơi nhẵn khi chín, đài mang quả gập xuống, hơi đồng trưởng. Hạt nâu, có 3 góc.
Hoa tháng 7-10 quả tháng 8-11.
Bộ phận dùng: Toàn cây và rễ - Herba et Radix Phyllanthi. Hoa, quả cũng được dùng.
Nơi sống và thu hái: Loài phổ biến ở Ðông Dương và Viễn Ðông cho đến Mông Cổ. Ở nước ta, cây mọc ở vùng đồng bằng các tỉnh phía Bắc cho tới Khánh Hòa. Thu hái toàn cây và rễ quanh năm, phơi khô hoặc dùng tươi.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, đắng, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, bổ tỳ vị.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Lá tươi giã ra và trộn với sữa bơ dùng làm thuốc nước chữa
lở
ngứa của trẻ em. Rễ dùng ngoài đắp trị áp xe vú. Lá tươi, hoa, quả, phối hợp với hạt cây Thìa là
thêm đường làm thành thuốc để dùng trị bệnh lậu.
Ở Trung Quốc, cây được dùng trị trẻ em cam tích; rễ dùng trị sưng đau vú.
(Sách: 3033 Cây thuốc đông y - Tuệ Tĩnh)
+Add commentsPlease log in before adding messages.