CÂY TIẾT DÊ
Cây thuốc số: 2646 - Tiết dêTheo sách của thiền sư Tuệ Tĩnh và các thiền sư khác.
Cập nhật nhiều nguồn mới từ thầy thuốc và các nhà nghiên cứu.
Tiết dê, Dây hồ đằng, Sâm nam - Cissampelos pareira L., thuộc họ Tiết dê - Menispermaceae.
Mô tả: Dây leo cỡ 1m, có thân và nhánh rất mảnh, hơi có lông. Lá hình trái xoan dạng tim rộng, hơi hình khiên, tù, lõm hay nhọn ở đỉnh, luôn luôn có mũi gai nhọn cứng, dài và rộng 2,5-3cm, màu nhạt, có 5 gân chính rất không đều. Cụm hoa đực ở nách, thành tán nhỏ rộng 10-15mm; cụm hoa cái thành chùm dạng bông, có nhiều lá tiêu giảm thành lá bắc. Quả hạch xoan ngược dạng thận, dài 5mm, có lông xám có vòi cạnh gốc. Quả tháng 4-5.
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Cissampelotis Pareirae, thường có tên là Tích sinh đằng.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở châu Phi, châu Á nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở nước ta, cây mọc rải rác ở bìa rừng và đồi cây bụi ở phiến non. Có thể hái toàn cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.
Thành phần hóa học: Trong cây có các alcaloid Cissampareine, D-Quercitol, Hayatine, lBebeerine (tức l-Curine), d-Isochondrodendrine, Hayatidine, Cissamine, (++)-4’’-6-Methylcurine. Vỏ rễ chứa Menismine, Cissamine, Pareirine.
Tính vị, tác dụng: Vị nhạt hơi tê, tính ấm, có tác dụng chỉ thống, chỉ huyết, sinh cơ. Ở Ấn Độ, rễ cây được xem như có tác dụng chống sốt chu kỳ, lợi tiểu, khử lọc, lợi tiêu hoá.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, cây được dùng trị đòn ngã tổn thương, vết
thương do chèn ép, vết thương mở chảy máu.
Ở Ấn Độ, rễ cây được dùng trị đầy hơi, ỉa chảy, phù, ho và rối loạn niệu đạo (như có sỏi...) và
trị rắn cắn. Lá dùng đắp ngoài trị ghẻ.
Ở Philippin, rễ sắc uống làm thuốc lợi tiểu, tiêu sỏi, làm toát mồ hôi, điều kinh, giảm đau,
chữa ho, sốt và lá cây chữa rắn cắn và trị ghẻ.
(Sách: 3033 Cây thuốc đông y - Tuệ Tĩnh)
+Add commentsPlease log in before adding messages.