CÂY TRÚC CẦN CÂU
Cây thuốc số: 2813 - Trúc cần câuTheo sách của thiền sư Tuệ Tĩnh và các thiền sư khác.
Cập nhật nhiều nguồn mới từ thầy thuốc và các nhà nghiên cứu.
Trúc cần câu, Ðạm trúc, Trúc nhự - Phyllostachys nigra (Lodd.) Munro var. henonis (Mitf.) Spapf ex Rendle, thuộc họ Lúa - Poaceae.
Mô tả: Cây cao 6-18m, đường kính 25mm. Các gióng phía gốc dài 4-16cm, phía trên dài 30- 35cm, tròn, phía mang cành có rãnh dọc. Mo nang dai, lá mo dài 10-15cm, rộng 10-15mm, có lông mềm như bột; lưỡi mo ngắn. Lá màu lục sáng, thon hẹp dài 5-10cm, rộng 1-1,5cm, mép lá có răng. Cụm hoa là chuỳ rộng, bông nhỏ có 1-2, ít khi 4; hoa lưỡng tính và 1 hoa thô sơ.
Bộ phận dùng: Trúc nhự, lá non- Caulis Bambusae in Taeniam et Juvenis Folium Phyllostachyos.
Nơi sống và thu hái: Thứ này phân bố ở Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc...
Ở nước ta, cũng có trồng ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Quảng Ninh là
loại trúc quý có thân dùng làm cần câu, gậy trượt tuyết.
Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, hoá đàm, chỉ thổ (hết nôn).
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, trúc nhự và lá non được dùng trị phiền nhiệt ẩu thổ, nấc, ho hen đo đàm nhiệt, thổ huyết, băng lậu, ác trở, thai động, kinh phong. Ta thường dùng tinh Trúc non làm thuốc cầm máu, chữa đái ra máu, nôn mửa, nước Trúc non chữa phong, điên cuồng, kinh phong và tiêu khát; còn lá dùng giải nhiệt, tiêu đàm, khỏi ho, nôn ra máu.
(Sách: 3033 Cây thuốc đông y - Tuệ Tĩnh)
+Add commentsPlease log in before adding messages.